Bảy Núi mộng mơ, Bảy Núi huyền bí, Bảy Núi của những khúc tráng ca một thời đạn bom oanh liệt; Bảy Núi là hình tượng nghệ thuật làm nên câu hát, bài thơ, trang văn đậm chất trữ tình, chất hào khí... Tất cả những câu ca ngợi ấy được xem như biểu tượng “ẩn ngữ” mà tao nhân mạc khách từ mọi miền dành cho Bảy Núi…

Xe ngựa vùng Bảy Núi vào mùa lễ hội
Xe ngựa vùng Bảy Núi vào mùa lễ hội

Vẻ đẹp của Bảy Núi được tạo hình bằng nét cọ của thiên nhiên và con người. Trong họa cảnh sơn thủy hữu tình, những chiếc xe ngựa loáng thoáng vụt qua dưới ánh nắng chiều tà giăng trên con đường trùng trùng rừng núi khiến bức tranh như chạm nét tráng lệ cổ xưa ở từng họa tiết cảnh vật và gam màu…

Gác lại “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” (*) của tao nhân mạc khách, tôi đi tìm xe ngựa ở Bảy Núi trong cuộc sống đời thường.

Theo lời kể của nhiều cụ cao niên thì ngựa ở Bảy Núi không biết được nuôi từ bao giờ, khi họ sinh ra, lớn lên đã được chở trên xe ngựa rồi. Ở Bảy Núi, khoảng vài mươi năm trước, ngựa được nuôi nhiều, từ đó về sau, chẳng biết lý do gì, việc nuôi ngựa ngày càng ít đi, chỉ còn trong đồng bào Khmer.

Hiện nay, toàn huyện Tịnh Biên có hơn 20 con ngựa, tập trung nhiều nhất ở xã Vĩnh Trung; huyện Tri Tôn có khoảng 7 con.

Ngựa Bảy Núi thường là ngựa lông vàng, thỉnh thoảng có vài gia đình nuôi ngựa bạch và “ngựa bông”. Ngựa dáng nhỏ nhắn, chiều cao từ 1.1 – 1.2 mét, chiều dài 1.3 – 1.4 mét. Chức năng của nó không phải để cưỡi, đua mà là… kéo xe.

Muốn sở hữu con ngựa để “bo” (kéo xe) “kiếm cơm” phải xuất vốn từ 15 – 18 triệu đồng. Trước kia, muốn mua ngựa chỉ việc dạo quanh vùng Bảy Núi, chọn con nào ưng ý ngả giá mua, bán; thương lái bên Campuchia cũng thường qua Bảy Núi tìm mua ngựa tốt. Giờ đây, muốn mua ngựa, bà con ở Bảy Núi phải qua tận huyện Kirivông, tỉnh Tàkeo nước bạn Campuchia.

Việc nuôi ngựa ở đây khá thuận lợi, cỏ là thức ăn chủ yếu, nhân lúc ngồi không đợi khách, các “tay ngựa” dừng bên đường “quơ” vài nắm cỏ cho ngựa ăn là xong; chiều về bồi bổ thêm nước cám hoặc chuối cây băm nhuyễn trộn với lúa. Do thời tiết, ngựa Bảy Núi rất ít bệnh, chỉ “ho khò khè” và “sổ mũi” khịt khịt, chủ cho “nằm không” vài ngày thì có thể tiếp tục “bo”… Tuy thân hình nhỏ nhắn, nhưng về sức kéo rất dẻo dai, mỗi chuyến “bo”, ngựa chở từ 500 – 700 kg. Ngựa sống rất thọ, tuổi đời khoảng 60 – 70 năm, trừ khi bệnh tật, chứ về “phong độ” thì “ngựa già” vẫn chở hàng như “ngựa trẻ”. Ngựa “bo xe” có cả ngựa cái. Để có ngựa dự bị cho nghề “bo” hay bán lại, ngựa cái “bo” được vài năm thì chủ dưỡng cho đẻ. Chủ chọn ngựa đực nào có sức tốt, dáng cao, khỏe thì đem phối giống; mỗi đợt phối giống thành công, ngựa đực được “trả tiền công” 500 ngàn – 1 triệu đồng. Thời gian ngựa cái mang thai đến khi sinh là 12 tháng. Ngựa mới sinh, nuôi dưỡng 1 năm có thể bán được từ 15 – 17 triệu; nuôi và tập luyện trong vòng 3 năm là “bo” được.

Tuy lấy sức ngựa làm “chén cơm”, nhưng các tay nuôi và “bo ngựa” ở Bảy Núi cũng rất điệu nghệ. Để ngựa có “sức hút”, nhìn bắt mắt, người ta thường “tỉa lông” lưng, trang trí bông xanh, đỏ trên lưng; gắn lục lạc cho phát ra tiếng kêu leng keng hòa với tiếng chân lụp cụp khi ngựa chạy. Hai bên mắt ngựa luôn có “miếng che”, không để ngựa “phân tâm” với cảnh vật hai bên, chỉ tập trung nhìn về trước và chạy.

 Vài mươi năm trước, bánh và thùng xe ngựa chủ yếu được làm bằng cây, nhưng loại này mau hư và sức chở kém. Ngày nay, để thuận tiện hơn, người ta thay bánh cây bằng “bánh hơi”, sườn xe làm bằng sắt, sức chở nhiều hơn, bền chắc, thích hợp cho nhiều loại địa hình.

Theo lời kể của ông Chau Da (ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Trung, Tịnh Biên) – người có hơn 30 năm “bo ngựa”: Trước kia, cuộc sống bà con còn nhiều khó khăn, xe ngựa là  phương tiện chính để đi lại, vận chuyển rau quả từ khắp các nơi trong núi, trên ruộng về phum, sóc, ra chợ bán. Vì vậy, ở Bảy Núi rất nhiều gia đình nuôi ngựa, nhất là bà con Khmer. Khi mọi hoạt động sản xuất bắt đầu thì từng đoàn xe ngựa dong ruổi trên mọi ngã đường xứ núi suốt ngày. Ngày lễ tết, đồng bào Khmer đến chùa bằng xe ngựa, tiếng lục lạc, tiếng chân lụp cụp của ngựa vang vọng cả phum, sóc, cả núi rừng.

Cách đây khoảng sáu năm về trước, ai cũng biết đến sự nhộn nhịp, nét đặc biệt của hai bến xe ngựa Vĩnh Trung và Chi Lăng (Tịnh Biên). Buổi sáng, gần trăm chiếc xe ngựa từ khắp các nơi “bo” đến hai “bến ngựa” chờ khách. Theo ông Chau Da, đời ba ông và ông đã gắn liền với hai bến xe ngựa này, ngày xưa, một ngày “bo ngựa” chở khách hay nông sản cũng kiếm được vài ngàn đồng đến vài chục ngàn đồng. Chiếc xe ngựa nuôi sống được cả gia đình.

Trong lúc ngồi chờ khách ở vệ đường, chăm sóc chú ngựa bạch “quý hiếm”, anh Chau Thay, 37 tuổi, nhà ở Vĩnh Trung, giới thiệu cho tôi biết về nghề 10 năm “bo ngựa” và con ngựa cưng của anh: “Mình bỏ ra 20 triệu mua nó đấy, cả hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn chỉ có hai con “bạch” thôi. Con “bạch mã” kia được người chơi ngựa ở Đồng Tháp qua mua với giá cao nên chủ nó bán, chỉ còn duy nhất con “bạch mã” này. Mình để dành kiếm tiền cá mắm, bán uổng lắm; thấy vậy chứ mỗi ngày “bo” cũng được 150 – 200 ngàn đồng. Chở nhiều thứ: chở khách đi chợ, chở lúa, gỗ, trái cây… đi khắp Tịnh Biên và Tri Tôn. Giá tiền mỗi chuyến “bo” tùy theo đường gần xa, tùy theo loại hàng và tùy vào lòng rộng rãi của khách. Mua con này 20 triệu, đã hơn 5 năm rồi, lấy vốn xong, nhờ nó mà nuôi được gia đình. Trước đây còn bến xe ngựa ở chợ Vĩnh Trung và Chi Lăng, sáng chiều người “bo ngựa” tập trung về đó; hai bến ngựa này giờ bị dẹp cách nay 6 năm rồi, từ khi người ta xây cất lại chợ. Người “bo ngựa” phải “lang thang” tìm “bến đậu” mới ở một góc bên quán nước ven đường. Người ta nói, để ngựa vô chợ tùm lum gây mất trật tự, cản đường cản xá nên người ta không cho vô nữa…”.

Không như anh Chau Thay và những người “bo ngựa” có bến có bãi khác, anh Chau Don 35 tuổi (Vĩnh Lập, Vĩnh Trung) hơn 12 năm “cầm cương”, chở tôi trên xe ngựa một đoạn thôi mà anh kể rất nhiều về việc sống nhờ vào con “ngựa già” này: Trước đây anh đậu xe ở bến chợ nhưng từ khi bến xe ngựa dẹp đi anh “bo” dạo. Xe chạy trên đường, ai có nhu cầu chở mướn thì kêu lại, bổ đồng mỗi ngày cũng được 150 – 200 ngàn; rồi nào là: em trai anh vào đại học, anh cưới vợ, sinh con, có tiền sửa lại nhà… đều nhờ vào ngựa. Bởi vì, khoảng 5 năm trước đây thôi, nghề đánh xe ngựa dễ kiếm ăn lắm, có lúc “bo” một ngày được 400 ngàn, nhưng hơi cực vì phải khuân vác hàng hóa lên xuống cho khách…

Ngoài chở khách và hàng hóa, những người làm nghề “bo ngựa” Bảy Núi còn “đánh thuê” cho những sự kiện văn hóa – lễ hội trong và ngoài tỉnh. Để “bo ngựa” cho lễ hội, chở khách du lịch, chiếc xe ngựa hàng ngày phải được “thay áo” - làm mái, lợp khung, treo cờ màu sắc lộng lẫy. Một ngày “bo xe” cho lễ hội thù lao được 300 ngàn, có thêm tiền boa của khách và ban tổ chức lễ hội. Ông Chau Da, anh Chau Thay nhiều lần tham gia “bo ngựa” lễ hội kể: “Bình thường ngựa mình ở nhà bị đày đọa còi cọc, đến khi đưa nó đi dự lễ hội thấy bà con quý mến ngựa, mình thấy cũng mừng. Nhiều người thấy ngựa lạ mắt nên ngựa được chụp hình hoài. Mười mấy người “bo ngựa” ở đây cũng thấy tự hào vì ngựa mình góp phần thu hút khách trong lễ hội. Ngoài các lễ hội ở Tịnh Biên, Tri Tôn, còn “bo” cho lễ hội ở Núi Sập, Vía Bà ở Châu Đốc, lễ hội ở Cần Thơ… Người ta còn nhờ mình đi chăm sóc ngựa, vì họ đem ngựa xứ khác về phục vụ lễ hội mà không biết nuôi ra sao.” – ông Chau Da cười chân tình, vẻ tự hào về cái nghề nuôi ngựa, bo ngựa ở xứ mình...

Tập “bo”, tận mắt thấy những “tay ngựa” tỉa tót, lau chùi cho ngựa; trò chuyện với những người xem ngựa và xe ngựa là bạn, vui mừng khi khách du lịch chụp ảnh với ngựa của mình… tôi mới cảm nhận được vì sao, ngày nay, dù cuộc sống phát triển, họ vẫn giữ gìn, quý trọng con ngựa của mình. Đó không đơn thuần là dư âm của quá khứ, của tiền “cá mắm”, đó là niềm đam mê nghệ thuật; một cuộc sống bình dị, thôn dã, mà rất nhiều người muốn được lên xe cầm dây cương “bo ngựa”. “Bo ngựa thấy vậy chứ vui lắm, ngày nào không bo ngựa thì thấy khó chịu, hình như ngồi cho ngựa chạy mình quen rồi” – lời của anh Chau Thay là cách diễn đạt một thú chơi mà ta cho là “lãng tử”, là nghệ thuật…

Rời xe ngựa, ngồi lên chiếc honda, tôi bỗng dưng có cảm giác ồn ào, giằng sốc… Ngã chiều, xe lao vút rời Bảy Núi, luyến tiếc, tôi vẫn ngoái cổ nhìn chiếc xe ngựa thoáng vụt qua phía đường sau. Dẫu xa, tiếng xe honda vẫn không át được tiếng chân lụp cụp, leng keng nhịp nhàng của xe ngựa. Trong tâm thức, một thoáng cảm xúc hiện về, hình ảnh hai bến xe ngựa được tái dựng lại một nơi nào đó ở Bảy Núi chắc hẳn cảnh vật, con người phố núi sẽ đẹp hơn, vui hơn nhiều. Và biết đâu, hai bến xe ngựa, những người sống bằng nghề “bo ngựa” sẽ góp một phần quan trọng trong việc phát triển du lịch ở địa phương. Nó và họ sẽ tái lập một nét văn hóa đặc trưng cho Bảy Núi mà không nơi nào và nhiều khi ta cố gắng tạo dựng cũng không có được!

Bóng chiều tà khuất dần sau núi, gió núi rừng mênh mông thổi - cảnh như thi họa. Hy vọng, một vài chú ngựa, những người “bo ngựa” lang thang tôi gặp sẽ còn mãi trong cho bức tranh Bảy Núi hữu tình…

Chú thích: Địa danh Bảy Núi gồm hai huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn của tỉnh An Giang.

(*): Trích Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan

Mênh mang chiều xứ núi!

Liêu Ngọc Ân - DH6C
eNews